1. Trang Chủ
  2. Kinh Nghiệm
  3. Thuốc bảo vệ thực vật là gì? Thuốc bảo vệ thực vật và những tác hại khôn lường bà con cần biết

Thuốc bảo vệ thực vật là gì? Thuốc bảo vệ thực vật và những tác hại khôn lường bà con cần biết

Nói đến thuốc Bảo vệ thực vật (Thuốc BVTV) chắc chắn là không còn gì xa lạ gì với chúng ta, đặc biệt nhất là những người hoạt động trong ngành nông nghiệp.

Thuốc BVTV bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại, lúc này con người đã bắt đầu biết đến việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệt các loại côn trùng gây hại trên cây trồng. Cho tới những năm cuối thế kỉ 19 thuốc BVTV có xu hướng phát triển mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất cũng như bảo quản nông sản.

Vậy sử dụng thuốc BVTV có lợi hay hại?

Nói đến lợi ích của việc sử dụng thuốc BVTV với những tác hại cực kỳ to lớn mà nó mang lại cho chúng ta quả thật đây là một trong những vấn đề mà chúng ta cần đặc biệt quan tâm. Khi hướng canh tác nông nghiệp của bà con làm nông quá phụ thuộc vào các loại thuốc BVTV, điều này ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến rất nhiều mặt trong khoảng thời gian lâu dài sau này.

Thuốc bảo vệ thực vật là gì?

Thuốc bảo vệ thực vật (Thuốc BVTV) đây là một tên gọi chung để chỉ cho các sản phẩm hóa chất được dùng trong canh tác sản xuất nông lâm nghiệp với mục đích ngăn ngừa, tiêu diệt, phòng trừ các đối tượng gây hại đối với cây trồng, nông lâm sản hay còn có khả năng kích thích, điều hòa sinh trưởng cho cây từ ngoài vườn cho tới kho bảo quản.

Điều đặc biệt cần phải lưu ý, các loại thuốc BVTV bắt buộc cần phải đăng ký vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở nước ta.

Phân loại thuốc BVTV

Hiện nay, thuốc BVTV trên thị trường rất đa dạng và phong phú về mọi mặt cho tất cả các loại cây trồng. không khó để bà con nhà nông có thể tìm mua được chúng trên thị trường. Để phân loại thuốc BVTV chúng ta dựa trên các mặt sau:

Phân loại dựa vào cấu trúc hoa học, nguồn gốc

Các loại thuốc BVTV chủ yếu được sản xuất dựa trên 2 nguồn gốc chính là hóa học tổng hoặc hoặc thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học.

Thuốc BVTV hóa học tổng hợp: Đây là dòng sản phẩm có thành phần hoạt chất là các chất hữu có tổng hợp hoặc các chất hóa học vô cơ. Những chất này hầu hết đếu là những chất độc hại.

Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học: Đây là loại thuốc BVTV có nguồn gốc từ tự nhiên, các chủng vi sinh sẽ được nuôi cấy trên một môi trường dinh dưỡng khác nhau hoặc là những chế phẩm sinh học từ các loại thảo dược. Đối với dòng sản phẩm thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học thương có độc tính nhẹ hơn so với dòng sản phẩm hóa học tổng hợp.

Trong lối canh tác ngày xưa phương pháp được sử dụng chủ yếu là những sản phẩm có nguồn gốc từ sinh học. Lâu dần còn người ý thức được những hậu quả mà các loại thuốc BVTV hóa học tổng hợp mang đến thì những sản phẩm có nguồn gốc sinh học đã được tái sử dụng phổ biến hơn.

Phân loại theo mục đích sử dụng

Phân loại các loại thuốc BVTV dựa trên đối tượng gây hại sẽ được chia như sau:

Phân loại theo dạng thuốc

Chúng ta dựa vào trạng thái của từng loại thuốc mà phân chia như sau:

Thuốc dạng bột thấm nước, thuốc dạng sữa, thuốc dạng dung dịch, thuốc dạng bột, thuốc dạng bột tan trong nước, thuốc dạng hạt, thuốc phun lượng cực nhỏ, thước dạng dung dịch huyền phù.

Loại này sẽ có 4 hình thức:

Phân loại thuốc BVTV dựa theo cách xâm nhập, nhóm độc

Hầu hết các loại thuốc BVTV là những loại chất độc đối với động vật.

Dựa theo cách xâm nhập được chia làm 3 loại: Thuốc xông hơi (loại này sẽ gây ngộ độc thông qua đường hô hấp), thuốc vị độc (loại này sẽ gây ngộ độc thông qua đường tiêu hóa), thuốc tiếp xúc (loại này sẽ gây độc qua vỏ bọc của cơ thể, qua da).

Tính độc của thuốc BVTV ở đây là nói đến khả năng gây độc của 1 lượng thuốc nhất định khi mà nó xâm phạm vào cơ thể của con người hay động vật.

LD50: là kí hiệu dùng để chỉ độ độc cấp tính của các loại thuốc qua da hoặc qua đường miệng. Những con số được cập nhật ở bảng trên là trị số dùng để biểu thị liều lượng gây chết trung bình được tính trên đơn vị miligam (mg), thông thường hoạt chất có thể gây chết lên tới 50% số động vật thí nghiệm(được tính bằng đơn vị kg), khi mà tổng lượng thể trọng của một số loại động vật bị phết thuốc lên da hoặc cho uống thuốc. Với giá trị LD50 càng nhỏ thì chứng tỏ rằng chất đó càng độc.

Theo quy định, trên bao bì của các loại sản phẩm thuốc BVTV đều phải có dấu hiệu màu nhằm giúp người sử dụng cẩn thận trong quá trình sử dụng.

Đối với những loại sản phẩm thuốc BVTV có tính độc mạnh có thể gây chết người, nên thường sẽ có kèm theo ký hiệu đầu lâu gạch chéo nhằm mục đích cảnh báo nguy hiểm cho người dùng.

Những tác hại của thuốc BVTV

Việc chúng ta sử dụng thuốc BVTV mang lại hiệu quả nhanh chóng, tức thời tuy nhiên lại gây ra những hệ quả cực kỳ nghiêm trọng nhiều mặt về lâu dài.

Việc mà người làm nông sử dụng thuốc BVTV một cách không kiểm soát, sử dụng vô tội vạ và dùng sai cách một phần do bản chất vốn độc hại của thuốc BVTV, đồng thời một phần do chính người sử dụng không ý thức được tầm nguy hiểm của thuốc do đó nên sử dụng một cách lạm dụng.

Vậy thuốc BVTV có những tác hại gì?

Hệ sinh thái mất cân bằng

Như chúng ta cũng biết, trong tự nhiên sẽ có những loại vật có lợi và những loại gây hại, các loài thiên địch để giúp cho hệ sinh thái được cân bằng. Tuy nhiên, khi con người chúng ta dùng các loại thuốc BVTV tác động một cách tiêu cực, điều này gây mất cân bằng và môi trường tự nhiên mất đi sự ổn định.

Thuốc BVTV mặc dù có tác dụng giúp chúng ta tiêu diệt các loại gây hại, thế nhưng nó cũng như con dao 2 mặt sẽ giết chết những loại vật có lợi.

Những loài vật là thiên địch như con trùng bắt mồi, ong ký sinh thường có độ nhạy cảm với các loại thuốc hơn so với các loài vật gây hại. Sauk hi con người sử dụng thuốc để tiêu diệt các loài vật côn trùng gây hại chúng chết rất nhiều, điều này làm cho các loài thiên địch trong tự nhiên bị thiếu hụt lượng thức ăn và bắt đầu chết dần, một phần nữa chúng sẽ bị chết dần do trúng độc từ con mồi.

Năm 1971 theo Pimetel cho biết, để chống lại 1000 các loại sâu gây hại thuốc BVTV đã gây tác động cực kỳ lớn đên hơn 200 nghìn loài sinh vật có lợi, không gây hại .

Dịch bệnh hại hình thành

Sử dụng thuốc BVTV sau một thời gian các loại sâu dịch hại trước đó bị suy yếu, khả năng gây hại không đáng kể. Tuy nhiên một điều ngược lại mà chúng ta thấy đó là những đối tượng trước đây bị xem nhẹ, khả năng gây hại ít thì có điều kiện thuận lợi để phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành dịch hại nguy hiểm và chắc chắn sẽ gây tổn thất khá nặng nề.

Thông thường những dịch hại mới so với những loài trước đó sẽ rất phức tạp, khó xử lý hơn, và bắt buộc người sản xuất lại phải nghiên cứu để cho ra sản phẩm độc hại hơn để tiêu diệt chúng.


Sauk hi chúng ta sử dụng thuốc BVTV, dịch hại sẽ giảm số lượng quần thể khá nhanh chóng, tuy nhiên chúng sẽ phục hồi trở lại một cách nhanh chóng với số lượng lớn hơn trước trong khoảng thời gian rất ngắn.

Như vậy, người canh tác nông nghiệp tiếp tục sử dụng thuốc nhưng về nông độ, liều lượng cần phải tăng lên, số lần dùng tăng lên, chu kỳ dùng thuốc tăng và cứ thế lặp đi lặp lại. Việc sử dụng thuốc BVTV như này không khác gì chúng ta đang huấn luyện cho các loài gây hại vậy đó, chúng sẽ thích nghi dần với điều đó và sẽ phát triển ngày một mạnh hơn.

Theo một số thống kê sử dụng thuốc BVTV cho thấy, các bệnh dịch hại mới hầu hết không phải từ nơi khác di chuyển tới, mà các loài dịch hạt thứ yếu thường có ngay tại chính địa phương đó, chúng bị tác động và được huấn luyện ngày càng phát triển mạnh và trở thành dịch hại.

Khi các loài gây hại sinh sản và phát triển với tốc độ nhanh hơn thiên địch, mà người canh tác tiếp tục sử dụng các loại thuốc BVTV thì đời sống của các loài sinh vật có lợi càng lúc càng bị đe dọa, không những vậy môi trường sống của chúng ta càng ngày càng trở nên ô nhiễm.

Gây ô nhiễm môi trường

Hầu hết các loại thuốc BVTV rất dễ bay hơi, đặc biệt là trong thời tiết nắng nóng. Tuy nhiên, có rất ít những trường hợp ghi nhận là bị ngộ độc do thuốc trong không khí. Phần đa thuốc BVTV chủ yếu tác động ở môi trường nước và môi trường đất.

Sau khi chúng ta sử dụng thuốc BVTV một phần bị quang hóa, một phần bay hơi, một phần phân giải, chuyển hóa, một phần hấp thu, dù cho chúng ta có xử lý như thế nào đi chăng nữa thì cuối cùng thuốc vẫn sẽ đi vào đất.

Dĩ nhiên thuốc sẽ không mất đi mà sẽ tồn tại ở các lớp đất khác nhau trong một khoảng thời gian khác nhau, các loài sinh vật có ích trong đất sẽ giúp phân đi một phần nào đó, set và đất mùn sẽ hấp thu một phần.

Với nhiều loại có tính độc cao nhiều loại sinh vật có lợi trong đất sẽ bị giết chết, đất sẽ không đủ thời gian để phân hủy hết, mà nếu chúng ta sử dụng thuốc lâu dài, liên túc thì các chất độc sẽ tích lũy dần lên.

Đối với những phần thuốc mà chưa thấm vào trong đất thì sẽ ra kênh rạch, đồng ruộng hoặc có thể thông qua đất rồi ngấm dần vào nguồn nước. Chưa kể tới lọ thuốc, bao bì sau khi sử dụng người dân vứt khắp các cánh đồng hay việc xục rửa dụng cụ chứa thuốc rồi đổ trực tiếp ra các nguồn nước khu vực gần đó.

Tất cả những điều trên đều là những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiêm môi trường nước và đất, gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng tới sức khỏe, đời sống của người và các loài sinh vật.

Kinh tế thiệt hại

Với những vuồn canh tác nông nghiệp sử dụng thuốc BVTV thường ban đầu sẽ có chi phí đầu tư khá cao, cao hơn so với những vườn trồng không sử dụng. Có rất nhiều trường hợp dùng thuốc nhưng không mang đến hiệu quả cao, điều này khiến cho chi phí đầu tư cao mà sản phẩm xuất ra chứa dư lượng nên không được chào đón trên thị trường và đương nhiên hiệu quả kinh tế thấp.

Các dịch hại mợi xuất hiện khiến cho người làm vườn phụ thuộc mãi vào các loại thuốc BVTV, điều này đe dọa nghiêm trọng cho sức khỏe con người, cho hệ sinh thái.

Nền nông nghiệp nước ta hàng nằm nhập khẩu ra thị trường bình quân > 70.000  tấn thành phẩm tương đương trị giá khoảng 210 – 774 triệu USD(từ năm 2006 -2010).

Chi phí khắc phục ô nhiễm nguồn nước, đất do sử dụng thuốc BVTV, sản phẩm tồn đọng dư lượng các chất gây hại  không thể xuất khẩu.

Ước tính đến năm 2010, chi phí cho sức khỏe  con người, cho các loại nông sản hàng năm liên quan tới thuốc BVTV không thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài ước tính khoảng 700 triệu USD., cón số này chưa tính đến chi phí về môi trường bị thuốc BVTV làm ảnh hưởng.

Danh Mục